ĐÌNH - MIẾU BÁO ĐÁP - CỤM DI TÍCH CỔ KÍNH BÊN BỜ BẮC HƯNG HẢI

Đình - Miếu Báo Đáp
Đình - Miếu Báo Đáp

1. Tổng quan về cụm di tích đình - miếu Báo Đáp

Cụm di tích được đặt theo tên gọi của làng là thôn Báo Đáp. Vào thời Hậu Lê, thôn Báo Đáp thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc. Đến thời Nguyễn thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1961 huyện Gia Lâm được cắt về Hà Nội. Sau lần cải cách hành chính vào năm 2025, đình - miếu Báo Đáp hiện nay thuộc thôn Báo Đáp, xã Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Những thông tin này cho thấy sự ổn định về đơn vị hành chính cơ sở, đồng thời phản ánh quá trình thay đổi trong hệ thống quản lý nhà nước qua các thời kỳ. Đình - miếu thờ ba vị thần làm thành hoàng làng:

  • Trương Thiên Đại thánh – gia phong: Hiển thánh Phù quốc Linh quang Đại vương.
  • Trấn Thiên Chân Vũ Đại vương – gia phong: Hộ quốc An dân Hiển ứng Linh thông Thượng đẳng thần.
  • Bản cảnh Thành hoàng: Hậu thổ Linh phù Thượng đẳng phúc thần Ngưng hưu Đại vương.

Trong đó thần Hậu thổ được thờ tự trước, sau đó mới đến hai vị thiên thần còn lại. Hậu thổ, tức thần đất, là tín ngưỡng có truyền thống rất lâu đời và tồn tại một cách phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và khu vực.

Trấn Thiên Chân Vũ Đại vương, tức thần Chân Vũ, Chân Vũ Thần quân, Chân Vũ Đại đế, còn gọi là Huyền thiên Thượng đế, là vị thần trấn thủ phương Bắc, tương ứng với vị trí của chòm sao Huyền Vũ, được Đạo giáo và dân gian thờ cúng rất phổ biến.

Trương Thiên Đại thánh hay Trương Thiên Sư, tức Trương Đạo Lãng, sống cuối thời Hán, tương truyền ông là dòng dõi của Trương Lưu hầu Trương Lương – bậc khai quốc thần thời Hán, là người sáng lập ra đạo Ngũ Đấu Mễ (thế kỉ thứ 2 sau công nguyên), là tổ chức Đạo giáo lớn và sớm nhất Trung Quốc, vận dụng tư tưởng Đạo gia của Lão Tử, Trang Tử, Liệt Tử… tôn xưng Lão Tử làm Thái thượng Lão Quân, coi Đạo đức kinh, Nam hoa kinh, Xung hư chân kinh là thánh kinh.

Theo tờ chế hiện lưu tại di tích, ngày 20 tháng Giêng năm thứ 10 niên hiệu Thành Thái, Nguyễn Văn Cộng được phong từ Hồng lô tự Thiếu khanh, Án sát Hà Nội lên làm Triều liệt đại phu, Quang lộc thự khanh Thiếu khanh. Tuy nhiên, không rõ nguyên nhân cụ thể nào khiến Nguyễn Văn Cộng làm Án sát Hà Nội, ông đã có công lao nào đó với nhân dân địa phương nên được phối thờ tại đình Báo Đáp.

2. Không gian di tích đình - miếu Báo Đáp

Đình Báo Đáp được nằm trong một quần thể di tích gồm đình - miếu - chùa của làng Báo Đáp. Trong đó đình quay về hướng tây, cách đó về phía bắc chừng 60m là sông Bắc Hưng Hải, một đại công trình thuỷ lợi của nước ta vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước.

Trước mặt đình là hồ bán nguyệt với ý nghĩa tụ thuỷ, mang đến yếu tố phong thuỷ đến cho di tích. Hồ nước ở dưới thấp là âm, đình ở trên cao là dương, âm với dương kết hợp lại với ý nghĩa vũ trụ luôn vận động, khiến cho vạn vật được sinh sôi nảy nở.

Nghi môn của đình được xây theo lối trụ biểu, trong đó hai cột nghi môn ở giữa cao và to hơn hai cột bên. Trên đỉnh hai cột ở giữa đắp hình phượng chầu quay ra tứ phía, ở dưới trổ ô lồng đèn đắp hình tứ linh (long, ly, quy, phụng). Hai cột nhỏ ở hai bên đắp hình nghê chầu quay vào giữa, ở dưới trổ ô lồng đèn đắp đồ án tứ bình (tùng, cúc, trúc, mai). Nghi môn được lắp thêm cổng sắt ở giữa để tiện việc trông coi, khoảng giữa hai cột nghi môn lớn và nhỏ xây thành bức tường, bên trên đắp hình rồng chầu nhật.

Bước qua nghi môn là tới khoảng sân rộng của đình, sân được lát gạch đỏ Bát Tràng. Hai bên là dãy nhà dải vũ rộng ba gian được xây đơn giản, đầu hồi bít đốc, trát vữa sơn xám. Đây là nơi di tích dùng để cất đồ tế lễ, cũng là nơi du khách dừng chân sửa soạn lễ vật trước khi bước chân vào bên trong đình làng.

Miếu Báo Đáp nằm bên phải đình Báo Đáp, quay mặt về hướng tây giống bên đình, miếu nằm sát cạnh bờ sông Bắc Hưng Hải.

Miếu có bố cục tương đối giống với đình, phía trước là nghi môn gồm 4 trụ biểu (2 trụ to ở giữa, 2 trụ nhỏ ở hai bên).

Đền Thờ Quận Công Nguyễn Đình Huấn

3. Nghệ thuật kiến trúc đình - miếu Báo Đáp

Đình Báo Đáp được cấu thành từ các hạng mục gồm: đại bái, trung cung và hậu cung.

Đại bái:

Hạng mục này có kết cấu 3 gian, 2 chái, 1 tầng, 4 mái đao cong, mái lợp ngói di. Bờ nóc để trơn, hai đầu bờ nóc đắp con kìm, các khúc nguỷnh đắp lá lật, các góc đao đắp cách điệu rồng lá. Ở mặt trước Đại bái có thể quan sát được hệ thống cửa ba gian giữa làm kiểu bức bàn. Hai gian chái được xây tường vây phía trước, trổ cửa sổ thông thoáng. Đặc biệt, phía trước hai gian này tạo tác hai cửa theo kiểu cổng pháo với các trụ biểu đắp kiểu truyền thống, mái dạng hai tầng ngói ống, có các đao cong đắp cách điệu rồng lá, ô lồng đèn đắp hoa văn chữ Thọ, thân các trụ soi gờ, kẻ chỉ, đắp vẽ các đôi câu đối chữ Hán, đế thắt cổ bồng. Kiểu kiến trúc này tương đối cổ điển.

Vào bên trong, tương ứng với 3 gian 2 chái là 4 bộ vì chính được làm bằng gỗ, trên 4 hàng chân cột bê tông, nền lát gạch đỏ Giếng Đáy. Hai bộ vì gian giữa được làm theo kiểu thức "thượng giá chiêng, chồng rường con nhị, cốn nách, bẩy hiên". Cột cái đỡ câu đầu, dưới câu đầu là đầu dư chạm rồng mang phong cách thời Nguyễn, trên câu đầu là hai trụ trốn kê đấu vuông thót đáy tạo hình giá chiêng. Ăn mộng vào thân trụ trốn là hai con rường ngắn, rường áp câu đầu cắt lửng một khúc nhỏ tạo sự thông thoáng, lại được kê hai đấu tròn mỏng có tạo hình các cánh sen mỏng. đầu trên hai trụ trốn đỡ một con rường lớn, rường này đội thượng lương qua đấu kê hình thuyền. phần vì nách được tạo bởi các cốn chạm khắc dày đặc hình tượng tứ linh, tứ quý sinh động, kỹ thuật chạm nổi, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. các bẩy đỡ tàu mái, được chạm rồng và lá lật.

Bộ vì hai gian bên được làm theo kiểu "thượng giá chiêng chồng rường con nhị, kẻ nách, bẩy chéo". Kết cấu ở vì thượng tương tự như bộ vì gian giữa, riêng phần vì nách được tạo bởi kẻ nách đứng trên xà nách. Chạm khắc tại đây khá đơn giản, với các hình lá lật ở thân các rường và đầu bẩy.

Bộ vì hai gian chái được làm dạng vì kèo trụ nọc ở phần thượng và dạng bán giá chiêng chồng rường ở phần vì nách. Tại đây có các kẻ xó vương dài từ đầu cột quân ra các góc, ra phía ngoài tại các góc đao cong cho hệ mái. Các cột quân ở đây với phần thân dưới là cột bê tông gạch vuông chắc khỏe.

Trung cung:

Trung cung được nối từ gian giữa và một phần hai gian bên Đại bái. Hạng mục này có tiết diện khá vuông vắn với một khoảng gian khá lớn. Hệ mái được lợp ngói truyền thống với 2 tầng mái, tầng trên 4 mái, tầng dưới 2 mái. phần ráp nối các nếp mái ở tầng mái trên được đắp vữa kẻ chỉ. Hai tầng mái được nối với nhau bằng một khoảng tường ngắn bưng có lỗ bằng gạch hoa thủng tạo sự thông thoáng và lấy ánh sáng cho không gian bên trong. Phần khung vì lỏng nhà với 2 bộ vì gỗ trên các hàng chân cột gỗ. Hai bộ vì được làm theo kiểu thức thượng chồng rường, kẻ xó (tương ứng với tầng mái trên) kẻ nách, xà nách gối tường (tương ứng với tầng mái dưới). Các cấu kiện gỗ thiên về độ bền chắc, không có các nét chạm khắc tại đây.

Hậu cung:

Hậu cung là ba gian nhà ngang, tường hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói ta, hai bên đầu hồi đắp hình hổ phù, nền nhà bên trong lát gạch đỏ 30x30. Nhìn bên ngoài, tiết diện của ba gian hậu cung nhỏ hơn hạng mục trung cung. Kết cấu khung vì Hậu cung đơn giản theo kiểu vì kèo. Điểm khác biệt so với nhiều kết cấu tương đương khác ở đây là từ chính giữa nóc mái được xây tường ngăn thẳng xuống, xen kẽ là các cửa vòm. Tương ứng với phần mái sau trong không gian bên dưới hậu cung là nơi bày ban thờ chính. Tương ứng với phần mái trước là không gian để trống. tường này có lẽ với chủ ý thêm một lần ngăn nữa cho không gian tôn nghiêm nhất tại đây.

Miếu:

Miếu Báo Đáp có kết cấu hình chữ đinh gồm toà đại bái và hậu cung.

Nhà Đại Bái là một nếp nhà ngang gồm 5 gian kết cấu chữ Đinh, trên nền cao hơn so với mặt sân 60cm, xung quanh bó vỉa gạch, mái lợp ngói ta, bờ dài để trơn không trang trí, chính giữa bờ nóc đắp nổi lưỡng long chầu nguyệt với hình tượng một đôi rồng uốn lượn hình sóng nước, đầu hướng cao. ở hai bên bờ nóc là hai con kìm ngậm đấu đinh đang trong tư thế chạy trên bờ nóc, đầu hướng về phía trước. Phía trước hai hồi xây trụ biểu, đỉnh trụ đắp nổi hình nghê hướng vào nhau, phía dưới là ô lồng đèn, thân trụ bổ khung ghi câu đối chữ Hán. Phía trước nhà Đại bái mở 3 cửa kiểu cửa bức bàn thượng song hạ bản gồm 4 cánh. Năm gian đại bái kết cấu bởi 6 bộ vì, bốn bộ vì giữa làm kiểu "chồng rường", hai bộ vì hồi làm kiểu "kèo cầu quá giang". Mặt bằng nội thất 4 hàng chân, các cột gỗ đỡ vì kiểu "thượng thu, hạ thách" đặt trên các chân tảng hình trụ cao 40cm. Trang trí trên kiến trúc tập trung vào hai bức cốn mê gian hồi phía ngoài chạm hình rồng, nghệ thuật chạm tinh xảo theo lối chạm nổi thể hiện niềm mong ước thái bình thịnh trị, xã hội an lạc, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, con cháu trường thọ, no đủ. Những mong ước đó được những người thợ thể hiện khá công phu. Ba gian giữa lát gạch Bát Tràng hai gian bên lát xi măng.

Hậu cung là một ngôi nhà dọc hai gian, nối từ gian giữa đại báo về phía sau. Đây là sản phẩm kiến trúc của lần trùng tu ngôi miếu vào cuối thời Nguyễn. Nhìn bên ngoài, hậu cung được làm theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, bờ nóc nhô cao, phần bít đốc nổi trội, bờ dải thoải dần về phía tay ngai. Mặt sau tường hồi đắp hình hổ phù ngậm chữ Thọ rất rõ nét. Mặt trước hậu cung là bộ vì được làm theo kiểu ván mê. Từ nền đại bái bước lên bậc tam cấp là tới cửa vào hậu cung. Bộ vì được tạo bởi từ hai cột hậu là một xà ngang chạy qua. Trên xà ngang là hai trụ trốn đứng trên đấu kê thót đát đỡ xà ngang nhỏ và đội ván mê trang trí hổ phù, hai bên là hai bức cốn mê với họa tiết hình rồng. Phía dưới xà ngang là một ván dong chia làm 3 ô chạm nổi chữ Hán. Vào bên trong là các bộ vì được làm tương tự nhau theo kiểu "vì kèo quá giang". Từ hai đầu bờ tường là một quá giang chạy ngang, trên quá giang là hai cột trốn đứng trên đấu kê thót đáy đỡ câu đầu, trên trụ trốn là hai thanh xà hình chữ V giằng chặt đỡ thượng lương và hoành mái.

4. Hệ thống hiện vật đình - chùa Báo Đáp

Đình Báo Đáp hiện còn lưu giữ được một số di vật quý, trong đó có thể kể đến tấm văn bia Ký Kỵ Bi Ký có niên đại vào năm Khải Định thứ 5 (1920), hệ thống câu đối có niên đại vào thời Nguyễn và những tượng thờ, đồ thờ liên quan đến việc thờ thần Thành hoàng và các vị thần có công với dân làng, là những thông điệp của lịch sử, qua đó khẳng định giá trị của ngôi đình đối với cộng đồng dân cư làng Báo Đáp nói riêng và Hà Nội nói chung.

Miếu Báo Đáp hiện còn lưu giữ được 6 đạo sắc phong trải dài từ thời Tây Sơn cho đến Nguyễn và hoành phi, câu đối, khám thờ, hương án, bát hương gốm Thổ Hà.. những phong tục tập quán của địa phương đều nguồn tư liệu quý giúp cho việc xác định niên đại của di tích, đồng thời khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và nghệ thuật.. thể hiện ở một cơ cấu tổ chức làng xã hoàn chỉnh, chặt chẽ với những thiết chế tốt đẹp còn lưu giữ lại đến hôm nay.

5. Giá trị lịch sử - văn hoá - nghệ thuật đình - miếu Báo Đáp

Giá trị lịch sử

Đình - miếu Báo Đáp là thiết chế văn hoá truyền thống tiêu biểu của làng Báo Đáp, phản ánh quá trình hình thành và phát triển lâu dài của cộng đồng cư dân vùng Gia Lâm – Kinh Bắc. Qua các triều đại Hậu Lê và Nguyễn, mặc dù có sự thay đổi về đơn vị hành chính cấp phủ, huyện, tỉnh, song địa danh thôn Báo Đáp vẫn được bảo lưu, cho thấy tính ổn định bền vững của làng xã cổ truyền.

Cụm di tích hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật giá trị, trong đó đáng chú ý là hệ thống sắc phong tại miếu. Đây là nguồn tư liệu gốc quan trọng, góp phần xác định niên đại tồn tại của di tích cũng như làm rõ vai trò của đình trong đời sống cộng đồng.

Đình - miếu thờ ba vị Thành hoàng: Hậu thổ Linh phù Thượng đẳng phúc thần, Trấn Thiên Chân Vũ Đại vương và Trương Thiên Đại thánh, phản ánh sự tiếp biến văn hoá giữa tín ngưỡng bản địa Việt Nam với Đạo giáo Trung Hoa trong xã hội truyền thống. Ngoài ra, di tích còn phối thờ nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Cộng – quan Án sát Hà Nội thời Nguyễn, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và truyền thống tôn vinh những người có công với địa phương.

Với những yếu tố trên, cụm di tích đình - miếu Báo Đáp là tư liệu lịch sử có giá trị, góp phần nghiên cứu tiến trình hình thành làng xã, đời sống tín ngưỡng và tổ chức xã hội truyền thống ở khu vực xã Gia Lâm.

Giá trị văn hoá

Đình - miếu Báo Đáp là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá của cộng đồng làng Báo Đáp, nơi diễn ra các nghi lễ truyền thống gắn với Thành hoàng và các vị thần được thờ phụng. Di tích nằm trong quần thể đình – miếu – chùa, tạo thành không gian tâm linh tổng hợp, tiêu biểu cho cấu trúc làng Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Cách bố trí không gian với hồ bán nguyệt phía trước, đình ở vị trí cao, phía bắc giáp sông Bắc Hưng Hải thể hiện rõ quan niệm phong thuỷ truyền thống, đề cao sự hài hoà âm dương, thiên nhiên và con người. Việc thờ Hậu thổ ở vị trí trung tâm khẳng định vai trò của tín ngưỡng thờ đất trong đời sống cư dân nông nghiệp.

Hệ thống câu đối, đồ thờ, tượng thờ và nghi thức tế lễ tại đình phản ánh sinh hoạt tinh thần phong phú của cư dân địa phương, đồng thời là môi trường lưu giữ các giá trị đạo đức, phong tục tập quán và bản sắc văn hoá cộng đồng.

Giá trị kiến trúc – nghệ thuật

Đình - miếu Báo Đáp có bố cục kiến trúc truyền thống gồm Đại bái – Trung cung – Hậu cung, với nghi môn trụ biểu và sân đình rộng, thể hiện đầy đủ đặc trưng của đình làng Bắc Bộ thời Nguyễn.

Hạng mục Đại bái của đình được dựng theo kết cấu thượng giá chiêng, chồng rường con nhị, bẩy hiên; hệ vì kèo bằng gỗ với các mảng chạm khắc rồng, tứ linh, tứ quý, lá lật mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, bố cục chặt chẽ, kỹ thuật chạm nổi khá tinh xảo.

Trung cung và Hậu cung được tổ chức theo dạng không gian chuyển tiếp và không gian thờ chính, thể hiện sự phân cấp rõ ràng về tính thiêng. Kiến trúc mái nhiều tầng, cửa kiểu cổng pháo ở hai gian chái Đại bái và hệ thống trang trí nghi môn tạo nên diện mạo kiến trúc hài hoà, cân đối.

Các di vật như bia đá, câu đối chữ Hán, đồ thờ tự là những tác phẩm mỹ thuật truyền thống có giá trị, góp phần hoàn chỉnh tổng thể nghệ thuật của di tích.

Đình - miếu Báo Đáp là những di tích có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá và kiến trúc nghệ thuật. Cụm di tích không chỉ phản ánh quá trình hình thành và phát triển của làng Báo Đáp mà còn bảo lưu nhiều yếu tố tín ngưỡng, kiến trúc và mỹ thuật truyền thống vùng Gia Lâm – Kinh Bắc xưa.

Với những giá trị nêu trên, di tích đình - miếu Báo Đáp đã được UBND TP Hà Nội công nhận là di tích lịch sử văn hoá vào năm 2015.

Bài & ảnh: Nguyễn An.,JSC