CHÙA NÀNH NINH HIỆP - NGÔI CỔ DANH LAM PHỤNG THỜ TỨ PHÁP

Chùa Nành Ninh Hiệp
Chùa Nành Ninh Hiệp

1. Tổng quan về di tích chùa Nành

Chùa Nành còn có tên là chùa Pháp Vân, hay nhân dân địa phương gọi với tên dân dã là chùa Cả, thuộc làng Nành (xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội), theo như bức hoành phi hiện đang được treo tại tiền đường chùa Nành, ngôi chùa này được mệnh danh là "Bắc Giang đệ nhất thiền môn". Chùa Nành thờ Pháp Vân, thuộc hệ thống chùa thờ Tứ Pháp, có quy mô vào bậc nhất ở miền bắc Việt Nam.

Chùa được xây dựng vào thời Lý. Trải qua rất nhiều giai đoạn lịch sử, quy mô hiện nay của chùa khá lớn, bao gồm: thủy đình, tam quan, tiền đường, cầu, tam bảo, tả vu, hữu vu, nhà Tổ, điện Mẫu và khu phụ. Chùa hiện nay còn có nhiều di vật của thế kỉ XVII - XVIII, như chuông đồng, khánh đồng, 3 tấm bia đá cùng nhiều pho tượng gỗ phủ sơn rất quý như bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Thập bát La hán, tượng Bà Nành…

Chùa Nành ban đầu tên là Đại Thiền tự, đến thời Đinh Tiền Lê mới thờ thêm Pháp Vân và gọi là Pháp Vân tự, nguyên do như sau: khi đó, tượng Pháp Vân ở chùa Dâu trong thành Luy Lâu nổi tiếng linh thiêng nên được rước về Đại La để cầu phúc cho dân. Lúc rước trả về chùa Dâu thì Thạch Quang vương Phật ở chùa Dâu biến đâu mất. Ở chùa Nành mọi người nhìn thấy hào quang tỏa sáng trên cây mận vườn chùa, đến xem thì thấy Thạch Quang Vương Phật ở đó, liền đốn cây mận tạc thành tượng Pháp Vân để thờ cúng, từ đó rất là linh ứng.

2. Không gian di tích chùa Nành

Chùa Nành quay về hướng nam, toàn bộ bình độ chùa nằm trên một trục dọc, một đường "thần đạo". Ngoài cùng là ao rối, và nhà rối kiến trúc kiểu tám mái "mái thượng - mái hạ".

Qua ao rối, lên tam cấp là ngũ môn của chùa. Do chùa Nành có kết cấu "tiền Thánh hậu Phật" nên lối vào chùa không phải là tam quan mà là ngũ môn (giống như nghi môn của các ngôi đền lớn). Ba cửa ở giữa xây bằng gạch vữa, cao hai tầng, cổng hình vòm, viền tam cấp và vòm cuốn được làm bằng đá xanh, ở vòm của tầng 1 viết các bức hoành phi và câu đối bằng chữ Hán cả ở bên trong và bên ngoài. Bên cạnh ba cửa ở giữa còn xây thêm hai cửa phụ, làm thành ngũ môn, hai bên cổng nhỏ xây trụ biểu, trên đỉnh cột đắp hình nghê chầu quay vào giữa. Trên tầng cao của ngũ môn trước đây đặt tượng Hộ pháp Long Thiên, nay đã mất.

Phía trong mặt bằng chùa bố cục kiểu nội chữ công, ngoại chữ quốc. Tiền đường, thiêu hương và tòa tam bảo tạo thành ba nét ngang: khe cầu hình thành Tòa thập điện, cùng bà Pháp Vân là nét dọc. Hai dãy hành lang, nhà Điện Mẫu và tường vây bao quanh hình chữ nhật.

Từ tam quan vào chùa qua một sân gạch rộng, hai bên là dãy nhà hữu mạc, tả mạc cùng các dãy nhà quan chủ, trong các dãy tả hữu mạc đặt những tấm văn bia ghi chép việc trùng tu, cung tiếng ruộng vườn vào chùa, đặc biệt có một tấm bia có niên đại vào thời Mạc, năm Diên Thành thứ 6 (1583). Từ sân gạch lên ba bậc tam cấp là tới khu kiến trúc chính của chùa, được bố trí kiểu chữ "quốc" bao gồm: Tiền đường nối với Hậu đường bằng hai dãy hành lang, bên trong là hình chữ "công" bao gồm: Tiền đường trong, Thiêu hương và Thượng điện.

Chùa Nành Ninh Hiệp

Ngoài công trình chính như tiền đường, thiêu hương và tam bảo, chùa Nành còn có nhiều các công trình khác phụ trợ như nhà mẫu, Phật động, nhà tổ,...được xây dựng liên tục và từng thời kì, khiến cho tổ hợp di tích trở nên quy mô, thể hiện rõ tính chất một ngôi danh lam đã có từ lâu đời.

3. Nghệ thuật kiến trúc chùa Nành

Vẻ độc đáo của chùa Nành không chỉ được thể hiện ở 2 gian giáp với gian hồi (chái) của toà Tiền đường ngoài nổi lên hai lầu chuông và khánh kiểu chồng diêm đăng đối, trên có 4 mái với 4 đao cong toả bốn phía cùng nhìn xuống sân trước chùa, mà còn ở kiểu vì nóc duy nhất được kiến trúc này làm theo lối "thượng cốn, hạ kẻ".

Gian thứ hai bên tả và bên hữu tiền đường, nóc chỗ thủng, nâng lên một lớp mái nữa làm gác chuông (bên tả) và gác khánh (bên hữu). Bộ vì của gác chuông, gác khánh làm đơn giản theo lối kèo cầu của kiến trúc Nguyễn muộn.

Các bức cốn trên vì nóc tiền đường được chạm khắc hết sức tỉ mỉ với nhiều đồ án mỹ thuật khác nhau, từ triện hoa dây; dơi ngậm khánh; tứ bình (tùng, cúc, trúc, mai); tứ linh; lưỡng long chầu nhật,...các đồ án đa dạng với nhiều hình tượng khác nhau, thể hiện rõ được tay nghề chạm khắc của người nghệ nhân xưa.

Tiếp sau tiền đường là thiêu hương ba gian vì làm kiến "Thượng rường - hạ kẻ". Hai vì bên bốn hàng chân, hai vì giữa trấn hai cột cái để làm không gian hành lễ, mái phân bố "Thượng tam - hạ tứ". Kiến trúc thiêu hương mang phong cách thời Nguyễn muộn. Giữa thiêu hương và tòa thập điện có hương án, trên bày tượng hộ pháp long thiên nhỏ mới tạo.

Nối thiêu hương với tam bảo là nhà cầu sáu gian, nhà cầu này chia làm ba phần: hai gian ngoài cùng làm thập điện, hai gian trong là cúng cấp, đặt tượng và cáng kiệu Pháp Vân ở gian thứ tư. Hai gian trong cùng phối hợp với nhà hậu thành Tam bảo của chùa đặt tượng Phật.

Hệ vì ở nhà cầu dùng bộ "thượng rường - hạ kẻ", đầu kẻ thể hiện hình vân xoắn và hai vì chồng rường. Mặt bằng 4 hàng chân, mái phân "thượng tứ - hạ ngũ".

Hai gian ngoài làm thập điện đặt tượng thập điện diêm vương, mỗi bên tường 5 tượng ngồi trên long ngai, đội mũ bình thiên. Tượng thể hiện khá hiện thực là những tượng thuộc về thế kỷ XIX. Giữa thập diện và cung cấp có ván ngăn cách. Phía trên có bức phù điêu chạm hình Tam thế phật, phía dưới có bức đại tự bằng chữ Hán đề "Pháp Vân tự".

Chùa Nành Ninh Hiệp

Hành lang, kiến trúc bộ vì, theo lối thượng "chồng rường – hạ bẩy hiên", hành lang (nhà hạ) song song với nhà cầu nối từ tiền đường xuống điện mẫu, bốn gian đầu của hai hành lang đặt tượng Tứ trấn (Tứ thiên vương). Theo quan niệm Phật giáo bốn vị này cai quản tứ phương, mỗi vị trấn một phương trời Đông – Tây – Nam – Bắc.

Gian thứ tám hành lang bên tả đặt tượng Đức ông cùng hai vị tả hữu. Tượng thể hiện mặt đỏ, vận võ phục. Tượng tả hữu vận võ phục chiến đấu, tượng mắt sáng hơi dữ tợn, mặt vuông. Đối diện với tượng Đức Ông là tượng Thánh hiền ở hành lang bên tả, tượng Đức ông đội mũ Tỳ lư, mặt trắng, hai bên cũng có hai vị tả hữu đi cùng.

4. Hệ thống hiện vật chùa Nành

Chùa hiện lưu giữ một khối lượng tác phẩm nghệ thuật cực kỳ có giá trị, đó là 10 tấm bia có niên đại từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII; các sắc phong; thần phả; chuông đồng đúc năm 1653; khánh đồng do Ninh quận công Nguyễn Thọ Tràng đúc năm 1733... và bức hoành phi lớn treo gian giữa toà Tiền đường có đề 6 chữ "Bắc Giang đệ nhất thiền môn" (ngôi chùa bậc nhất lộ Bắc Giang) trên có dòng lạc khoản: Long Đức ngự đề. Long Đức là niên hiệu của vua Lê Thuần Tông (1732 - 1735).

Đây là một trong số rất ít các ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam có hệ thống tượng Phật giáo đầy đủ nhất. Ngoài những lớp tượng phổ biến vẫn thấy ở các chùa như toà tượng Tam thế Phật, Tây Phương tam thánh, Phật Thích Ca, Bồ tát Tuyết Sơn, Bồ tát Di Lặc, Thập bát La Hán, Hộ pháp..., chùa Nành còn có sự hiện diện của các pho tượng này đều được tạo tác ở trình độ cao, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX.

Tiêu biểu nhất phải đặc biệt kể đến 3 pho Tam thế Phật và tượng Pháp Vân. Bộ Tam thế chùa Nành là một trong số bộ tượng Tam thế có niên đại sớm nhất, đến nay chỉ còn rất ít, tượng có lẽ được tạc vào năm 1583, sau khi Hoàng hậu Trần Thị Trân tu sửa chùa. Còn tượng Pháp Vân, khác với tượng Pháp Vân ở chùa Dâu được tạc với hình tượng vải cuốn kín từ bụng đến chân, ngực lép, nét mặt già dặn và nghiêm trang, ít biểu cảm thì tượng Pháp Vân ở chùa Nành được thể hiện khá "táo bạo" với phần trên hoàn toàn để trần, chỉ có miếng vải quấn từ bụng dưới đến đùi trên, phô ra hầu như toàn bộ cơ thể.

Tượng có thân hình cân đối, ngực nở, nét mặt trẻ trung, đôn hậu và gần gũi, khiến ta có cảm giác như khuôn mặt của một thôn nữ. Đây thực sự là một tác phẩm điêu khắc đẹp, đặc biệt là đã đưa được cái đẹp dân dã vào các pho tượng thờ tôn nghiêm, thể hiện tài năng và khát vọng của những nghệ nhân xưa.

5. Giá trị lịch sử - văn hoá - nghệ thuật chùa Nành

Kiến trúc – nghệ thuật chùa Nành là một phức thể vừa trải rộng về không gian vừa tiến triển theo thời gian. Nếu như dấu vết của các kiểu trước thời Nguyễn không còn thấy được thì các tác phẩm nghệ thuật trong chùa còn phô ra một chiều dày lịch sử dày dặn. Những tấm bia thế kỷ XVI và những pho tượng Tam thế thời Mạc đặt dấu mốc cổ kính của ngôi chùa.

Các tác phẩm điêu khắc khác của các thế kỷ sau là một chuỗi liên tục, nói lên công sức lao động và tài năng của tổ tiên ta trong bốn thế kỷ liền. Nhà Tổ, điện Mẫu, mặt động tuy là những kiến trúc muộn màng với những tượng Bồ Đề, Đạt Ma, tượng Tổ, tượng Mẫu đã tạo nên một sắc thái sinh động, đa dạng chạy qua bốn trăm năm của lịch sử dân tộc.

Không chỉ có những giá trị về mặt lịch sử và văn hoá, chùa Nành còn là nơi sinh hoạt tâm linh của người dân làng Ninh Hiệp nói riêng và xã Phù Đổng nói chung, các dịp lễ hội được tổ chức hàng năm góp phần phát triển đời sống xã hội của nhân dân, cũng là một cách bảo tồn, gìn giữ và phát triển các giá trị văn hoá của chùa Nành Ninh Hiệp.

Chùa Nành đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1989. Nơi đây còn là một địa điểm di tích cách mạng - kháng chiến.

Bài & ảnh: Nguyễn An.,JSC