Đình Tình Quang hiện tọa lạc tại làng Tình Quang, phường Việt Hưng, thành phố Hà Nội. Theo các thư tịch cổ vào thời Lê Trung Hưng, khu vực này thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc.
Đình nằm ở thế đất cao giữa làng Tình Quang, mặt nhìn ra phía sông Đuống lưng quay vào đê Vàng. Làng Tình Quang có tên nôm là làng Vịa, về tên gọi Tình Quang, theo sắc phong được lưu trữ tại đình, Tình Quang có nghĩa ánh sáng sau cơn mưa hay sau cơn mưa trời lại sáng. Tên gọi này cũng gắn với một truyền thuyết: Công chúa Lê Ngọc Hân trên đường về quê ngoại ở vùng Ninh Hiệp, khi tới đây trời bỗng hửng sáng và tạnh ráo nên đã đặt tên làng là Tình Quang.
Đình thờ ba vị thần làm thành hoàng làng, trong đó có Lý Bí, Đinh Điền và Lý Chiêu Hoàng. Tuy nhiên căn cứ vào hệ thống sắc phong hiện còn lưu giữ tại đình Tình Quang thì chỉ nhận thấy duy nhất Lý Nam Đế là vị thành hoàng duy nhất được các triều đại phong kiến công nhận.
Lý Bí (Lý Bôn - Lý Nam Đế): Theo Đại Việt sử ký (kỷ nhà tiền Lý ghi): vua họ Lý, húy là Bôn, người Thái Bình, phủ Hưng Long. Tổ tiên là người Bắc, cuối thời Tây Hán, khổ về việc đánh dẹp mới tránh sang đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam. Vua có tài văn võ, trước làm quan với nhà Lương, gặp loạn trở về Thái Bình. Bấy giờ các thủ lĩnh tàn bạo, hà khắc, người Lâm ấp cướp biên giới, vua dấy binh đuổi đánh, xưng làm Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên.Để tưởng nhớ công lao của Lý Nam Đế, khắp nơi nhân dân ta đã lập đền thờ ông theo nghi lễ thờ Vua. Riêng miền Bắc đã có trên 200 ngôi đình, đền, miếu thờ Lý Nam Đế và các tướng của ông. Tại đây vào những ngày sinh 12/9 (ông sinh năm 503) và mất ngày 20/3, nhân dân vẫn tổ chức lễ kỷ niệm vị anh hùng dân tộc gắn với tên nước “Vạn Xuân” – niềm tự hào bất diệt của con cháu muôn đời.
Đinh Điền:Theo Việt Sử Toàn Thư, ông quê ở làng Đại Hữu, nay thuộc xã Đại Hoàng, tỉnh Ninh Bình, ông là một trong số những công thần theo vua Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp 12 sứ quân, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt và là người tận trung với nhà Đinh.
Lý Chiêu Hoàng: Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, “Mùa Đông, tháng 10, xuống chiếu lập công chúa Chiêu Thánh làm hoàng thái tử đã truyền ngôi, đổi niên hiệu là Thiên chương hữu đạo năm thứ nhất, tên hiệu là Chiêu Hoàng.Chiêu Hoàng trước đây húy là Phật Kim, sau đổi làm Thiên Hinh, con gái thứ của Huệ Tông. Huệ Tông không có con trai, lập làm hoàng thái tử để truyền ngôi, ở ngôi được 2 năm rồi nhường ngôi cho họ Trần…”
Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, đình Tình Quang được khởi dựng vào khoảng những năm Chính Hoà (1680~1705) căn cứ vào tấm bia ở đình ghi chép lại, tuy nhiên tấm bia đó hiện nay đã bị vùi lấp trong lòng đất mà hiện nay nhân dân đã xây nhà lên trên. Đình trải qua nhiều lần trùng tu lớn, trải dài từ thời Nguyễn cho đến hiện nay. Trong lần trùng tu gần nhất vào năm 2024, đình được trùng tu, thay thế một số cấu kiện đã bị mục nát và tôn tạo xây mới một số các công trình phụ khác.
Phía ngoài di tích là nghi môn kết hợp với cổng đình. Nghi môn gồm 4 cột trụ vuông, hai cột giữa cao hơn, trên đỉnh cột đắp hình phượng chầu quay ra 4 phía, hai cột ở bên thấp và nhỏ hơn, đắp hình nghê chầu quay vào nhau. Ở giữa các cột nghi môn được dựng các phần mái với kết cấu cột gỗ kết hợp với ngói mũi hài. Phần mái ở hai cột nghi môn giữa treo bức hoành phi chữ đen nền thếp vàng với nội dung: “Vạn Cổ Trường Xuân” với ý nghĩa liên quan tới quốc hiệu Vạn Xuân của vua Lý Nam Đế.
Trước cửa đình là một hồ bán nguyệt lớn với ý nghĩa tụ thuỷ, hồ thấp mang ý nghĩa âm, đình xây trên cao mang ý nghĩa dương, hình thức âm dương song hoà này là sự cầu mong hạnh phúc phồn vinh, mong trường tồn cho con cháu.
Vào khu đình chúng ta trước hết qua một nghi môn, nghi môn với ba cửa vào, cửa lớn ở giữa với hai trụ biểu to, cao, đỉnh trụ là hai con lân. Hình tượng lân là biểu hiện cho trí tuệ, cho sức mạnh của đạo đức. dưới lân là lồng đèn được trang trí tứ linh. Trên mặt trụ là những đôi câu đối chữ Hán đắp bằng vôi vữa, tả hữu nghi môn với hai tầng mái và tám góc đao cong vừa phải.
Sau nghi môn là một hệ sân rộng lát gạch, hai bên là 2 dãy nhà giải vũ song song làm nơi tụ họp của các giáp trong những ngày lễ hội của làng. Hai dãy nhà giải vũ mỗi bên ba gian, đầu hồi bít đốc được làm lại trong khoảng thời gian sau này.
Đình làm theo kiểu chữ Đinh, phía ngoài là đại đình với 5 gian 2 chái lớn, làm theo kiểu hàng chẵn. đình to, bề thế, là một ngôi đình quý hiếm so với nhiều nơi, đình còn có sàn mà nay dấu vết chỉ để lại những lỗ chân cột. cấu trúc của bộ vì nói được làm theo kiểu vì kèo cổ truyền. Đây là một ngôi đình đáng quan tâm về mặt nghệ thuật.
Mái đình được lợp ngói di, 4 góc là 4 đao cong vôi lá hóa vân. Bờ nóc chính giữa là hai rồng chầu mặt nhật, hai bên bờ giải là hai đầu kìm kiểu thủy quái, đây là ước muốn cầu nguồn nước, cầu được mùa và sự no đủ của người xưa.
Bước vào đình ta qua một hàng hiên, hiên đình chỉ rộng chừng 1m, các phiến đá xanh lớn được bó làm vỉa. trên các đầu kẻ hiên là những nét đao mác, những vân xoắn, những mầm măng, đó là những biểu hiện của chép mang ước muốn cầu mưa của dân cư nông nghiệp…, rồi những kẻ được chạm lá hóa rồng, những chim phượng đang dang cánh trên những nét chạm nổi chạm bong kênh tinh tế.
Tòa đại đình dạng chữ Nhất, 5 gian 2 chái lớn với một đầu hồi và một bên để trống. Các bộ vì của đại đình kết cấu theo kiểu vì kèo cọc báng nền nhà đại đình trước kia được lát gạch Bát Tràng cổ, sau khi Pháp chiếm đóng đình năm 1946 bị phá, nền nhà hiện giờ được lát gạch vuông đỏ xám thay vào.
Lòng nhà đại đình chia các gian không đều nhau, gian giữa rộng hơn tới 3,5m và các gian bên rộng khoảng 3m. Các cột đại đình khá lớn được đặt trên những chân tảng vuông có đường kính 60cm.
Chạm khắc của kiến trúc đại đình tập trung vào những bức cốn chính đó là hai mặt của các bức cốn ngoài, cốn trong gian giữa, cốn trong, cốn nách…các bức cốn với đề tài trang trí chủ yếu là rồng, vân xoắn, đao mác…đó là biểu hiện của những chớp con, chớp cái của một bầu trời đầy mây vần vũ, đòi mưa cho mùa màng tươi tốt.
Vào hậu cung là một cửa lớn ở giữa với hai bộ cửa làm theo kiểu thượng song hạ bản, phía dưới được sơn son thếp vàng với một bên là rồng, vân mây, một bên là rùa vẽ chìm. Hai cửa bên nhỏ hơn là hai lối vào.
Yếu tố một bên là rồng vân mây, một bên là rùa vẽ chim là hai yếu tố âm dương, song con rùa còn tiêu biểu cho một làng có học, nhiều người đỗ đạt cao. Với những con rùa đội hòm sắc mang ý nghĩa đề cao văn học.
Rồi những nét chạm trúc với những cây trúc quân tử, những cây mai biểu hiện sự thanh cao của cái tâm con người. bên trên là những mảng chạm phật thủ, na (nhiều mắt) là sự sinh sôi, nảy nở, rồi đào lựu là những quả thiêng…
Gian ngoài của hậu cung để trống làm nơi hành lễ, phía hai bên bày đồ thờ tự khí, bát bửu.
Trên bệ xây cao 1m80 là nơi tọa lạc của các vị thần với ba ngai bài vị thờ: Lý Bí, Đinh Điền và Lý Chiêu Hoàng.
Trên ban thờ hậu cung còn một đỉnh đồng được chạm mặt hổ phù. Thông qua nét tác của nghệ thuật cho biết sự xuất hiện của các thánh nhân.
Bên hậu cung còn hai ngựa gỗ đứng cao tới 2m, một ngựa hồng, một ngựa bạch được tác rất đẹp.
Đình nhiều lần được trùng tu qua các thời kì, nên phong cách chạm khắc ở bên trong đình cũng hết sức đa dạng, từ hình tượng rồng chầu, tiên cưỡi rồng cho đến hình tượng tứ linh, võ sĩ,...đầu dư hình rồng ở các cột cái được chạm kênh bong, miệng nhe nanh ngậm ngọc, đao mác chĩa ra mang đặc trưng phong cách mỹ thuật thời Lê giai đoạn TK XVII - XVIII.
Đình Tình Quang hiện còn lưu giữ được nhiều các hiện vật có giá trị, trong đó có các tấm bia đá có niên đại vào khoảng TK XVII - XVIII, bộ bát bửu sơn son thếp vàng, các bức hoành phi, câu đối và các hệ thống các sắc phong trải dài niên đại từ thời Lê Cảnh Hưng cho đến các sắc phong thời Nguyễn có niên đại vào thời Gia Long, Minh Mạng, Khải Định.
Đình Tình Quang có lịch sử từ lâu đời, là trung tâm sinh hoạt tâm linh, văn hoá, tinh thần của một làng quê truyền thống. Sau nhiều thế kỉ tồn tại, di tích này vẫn bảo lưu được đầy đủ những giá trị tinh thần và vẻ đẹp kiến trúc, chính điều này đã thu hút rất nhiều các du khách đến tham quan, cũng như các học giả, sinh viên đến nghiên cứu, học tập,...
Đình được quy hoạch trên một quy mô rộng lớn, thoáng đãng tạo ra sự bề thế, khang trang cho khu di tích truyền thống của làng xã lại mang những vẻ độc đáo của sự hòa nhập vào môi trường cảnh quan.
Những mảng chạm sinh động, độc đáo với những cảnh vũ nữ thiên thần, những hoạt cảnh dân giã, những rồng mẫu tử trong chạm khắc kiến trúc ở các cốn, rồi những kẻ với đao mác, vân xoắn như những chớp đội mưa… những chim phượng như múa trên bầu trời đầy mây… mang nghệ thuật của TK XVII. Tất cả những nét chạm của đình đã để lại trong mỗi người một suy tư về một truyền thống dân tộc, về niềm tự hào…
Trong xu thế đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, vùng đất Việt Hưng nói chung, trong đó có các di tích, trực tiếp nhất là ngôi đình Tình Quang cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Trước thực tiễn đó, cùng với chùa, ngôi đình Tình Quang đã được các cấp chính quyền và ngành văn hoá Hà Nội chú trọng lập dự án tổng thể trùng tu, tôn tạo nhằm từng bước bảo tồn và phát huy giá trị vốn có của di tích, qua đó góp phần tuyên truyền, giáo dục về truyền thống lịch sử lâu đời của một vùng quê ngoại thành Hà Nội.
Đình Tình Quang đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1993.
Bài & ảnh: Nguyễn An.,JSC