ĐỀN TRẤN VŨ - DI TÍCH TÂM LINH TIÊU BIỂU VÙNG LONG BIÊN

Đền Trấn Vũ
Đền Trấn Vũ

1. Tổng quan về di tích đền Trấn Vũ

Đền Trấn Vũ hiện tọa lạc tại phường Long Biên, thành phố Hà Nội – khu vực nằm ở hữu ngạn sông Hồng, vốn là vùng đất cổ thuộc tổng Thạch Bàn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc xưa. Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cư dân nông nghiệp vùng châu thổ Bắc Bộ, nơi sớm hình thành các thiết chế tín ngưỡng truyền thống gắn với quá trình khai khẩn đất đai và phòng chống thiên tai.

Huyền Thiên Trấn Vũ hay còn gọi là Chân Vũ vốn là một vị thần trong hệ thống thần linh Đạo giáo, thường được xem là vị thần của phương Bắc, có quyền điều khiển nước, trừ tà, trấn giữ đất nước khỏi ác khí và thiên tai. Khi được du nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng thờ thần Trấn Vũ hòa quyện với văn hoá bản địa, trở thành một vị thần linh giúp dân trừ ma, hộ quốc, an dân, đặc biệt là trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ.

Truyền thuyết còn kể rằng thần Trấn Vũ từng giúp các vua Hùng, vua An Dương Vương hoặc các nhân vật lịch sử khác tiêu diệt yêu ma, trừ ác và phù trợ cho dân chúng, những truyền thuyết này hòa trộn giữa yếu tố Trung Hoa và Việt Nam. Theo truyền thống và các bia ký cổ, đền được xây dựng dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460–1496). Truyền thuyết kể rằng khi vua Lê Thánh Tông đi chinh phạt phương Nam, Ngài được Thánh Tổ ứng mộng báo hiệu linh thiêng của Đức Thánh Trấn Vũ; nhà vua liền cho lập đền thờ, đặt tượng và bài vị với dòng chữ vàng "Hiển linh Trấn Vũ quán".

Trong hệ thống di tích của địa phương, đền Trấn Vũ giữ vị trí quan trọng, cùng với chùa Cự Linh tạo thành trục không gian văn hóa – tâm linh, phản ánh cấu trúc làng xã cổ truyền.

2. Không gian di tích đền Trấn Vũ

Không gian di tích được tổ chức theo trục Bắc – Nam, phù hợp với quan niệm trấn giữ phương Bắc của thần Trấn Vũ. Tổng thể đền nằm trên thế đất phong thủy đặc biệt được dân gian gọi là "Quy – Xà hội tụ", trong đó phía trước có gò đất thấp tượng trưng cho Rùa (Quy), còn phía sau là đê sông Hồng uốn lượn như hình Rắn/Rồng (Xà).

Thế đất này gắn liền với truyền thuyết Đức Thánh hàng phục yêu rùa, yêu rắn, đồng thời thể hiện quan niệm âm dương cân bằng và sự bảo hộ linh thiêng đối với vùng đất cư trú.

Phía ngoài cùng của không gian di tích đền Trấn Vũ là cổng tam quan xây theo lối kiến trúc truyền thống, trong đó cổng ở giữa xây theo kiểu hai tầng tám mái, hai cổng nhỏ ở hai bên tả hữu được xây nhỏ hơn theo lối bốn mái. Tam quan được xây bằng gạch trát vữa bên ngoài, kết cấu mái được xây bằng gỗ, trên lớp ngói mũi hài. Ngoài tam quan chính trên trục thần đạo, di tích còn có cổng phụ ở phía bên phải nối với khu nhà trưng bày.

Bước qua tam quan là tới khu vực hồ bán nguyệt án ngữ ở trước mặt đền, hồ nước mang ý nghĩa tụ thuỷ, mang tới cho khuôn viên đền đầy đủ yếu tố phong thuỷ âm dương. Ở giữa hồ nước là thuỷ đình xây theo lối hai tầng tám mái, đây là nơi nghinh phong đón gió cho di tích.

Sau hồ bán nguyệt là bình phong và nghi môn của di tích. Bình phong bằng đá, được tạc theo lối cuốn thư, bên trên tạo hình lưỡng long chầu nhật, ở giữa được khắc dòng chữ Hán: "Thiên Phong Hữu Túc". Nghi môn được dựng theo lối trụ biểu gồm bốn cột trụ, trong đó hai cột ở giữa được xây cao và to hơn hai cột ở hai bên, trên đỉnh đắp hình phượng chầu quay ra tứ phương, bên dưới trổ ô lồng đèn đắp hình tứ linh (long, ly, quy, phụng); hai cột trụ ở hai bên nhỏ và thấp hơn, trên đỉnh đắp hình nghê chầu quay vào giữa, ở dưới trổ ô đèn lồng đắp hình tứ bình (tùng, cúc, trúc, mai).

Trục thần đạo từ tam quan đến tiền tế của đền được lát đá xanh, xung quanh khuôn viên đền được lát gạch đỏ Bát Tràng, cùng với các công trình phụ tại khuôn viên của đền tạo sự trang nghiêm, hài hoà đối với tổng quan mặt bằng khu di tích.

Đền Trấn Vũ

3. Nghệ thuật kiến trúc đền Trấn Vũ

Đền được xây dựng theo kiểu thức kiến trúc truyền thống Bắc Bộ, bố cục cơ bản gồm tiền tế, trung cung và hậu cung. Mặt bằng tổng thể mang dáng dấp "nội công ngoại quốc", các nếp nhà liên kết chặt chẽ, tạo không gian khép kín, tĩnh tại.

Tiền tế: Hàng hiên nhà tiền đường là một hệ thống cột đá xanh vuông 0m25, chân cột phình to hơn thân cột, tạo cảm giác vững chắc, xung quanh trang trí rồng hoa, lá. Thân cột mặt trước khắc chữ Hán, 2 mặt bên chạm rồng, mặt trong chạm hình vân xoắn. Nền lát gạch vuông, 3 gian giữa là long đình thấp bằng mặt hiên phục vụ cho việc hành lễ, hai gian bên cao hơn thay cho hệ thống sàn gỗ.

Trung cung: Trung cung giáp mái với tiền đường bằng hệ thống máng nước. Trung cung phía trước không có cửa, hai đốc xây tường hồi. Mặt nền cao hơn long đình và bằng với 2 gian đầu của tiền đường. Nền nhà lát gạch vuông. Căn cứ vào kiến trúc hiện còn kết hợp với văn bia còn lại thì nhà Trung đường được xây dựng lâu hơn. Đến năm Ất Hợi Bảo Đại thứ 10 (1936) cung giữa được trùng tu lớn để cân đối với cung trong (hậu cung).

Hậu cung: Hậu cung được nối liền với các nhà trung đường, bà bề xung quanh xây tường, mặt trước xây tường trổ 3 cửa. Cửa giữa rộng, 2 cửa nách hẹp. Hai ô trên cửa nách đắp nổi hình phong cảnh sông núi. Nền lát gạch, tường chung quanh xây gạch bát, phía ngoài để lộ mạch, phía trong trát vôi trang trí lên tường hình rồng đuôi xoắn nhiều màu. Kiến trúc kiểu 8 mái, 4 cột cái làm trụ chịu lực kê trên tảng đá tròn, xung quanh có 6 cột phụ.

4. Hệ thống hiện vật đền Trấn Vũ

Đền Trấn Vũ có thể coi là một kho tàng di sản quý giá với một số lượng hiện vật khá đồ sộ với nhiều chất liệu, chủng loại khác nhau. Về hiện vật bằng đá, đền Trấn Vũ hiện còn lưu giữ được 2 tấm văn bia thời Nguyễn, 4 cột đá khắc câu đối tại hiên tiền tế thời Nguyễn, 4 pho võ sĩ (hay còn gọi là 4 vị thần lôi - phong - hoả - vũ).

Về hiện vật bằng gỗ, đền Trấn Vũ hiện có các hiện vật như hoành phi, câu đối, ngai thờ, bát bửu,...và còn rất nhiều những hiện vật khác. Về chất liệu giấy, đền Trấn Vũ hiện còn lưu giữ được 25 đạo sắc phong trải dài từ thời Lê Trung Hưng cho đến thời Nguyễn, đây có thể coi là sự quan tâm của triều đình phong kiến đối với di tích. Các đạo sắc phong của đền được UBND TP Hà Nội công nhận là Tài liệu lưu trữ quý, hiếm vào năm 2018.

Hiện vật quan trọng và là trung tâm của đền Trấn Vũ, đó chính là pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc bằng chất liệu đồng tổng hợp. Tượng cao 3m80, chu vi 8m, nặng 4 tấn. Tượng tư thế ngồi, mắt nhìn thẳng, đầu trần, mình mặc áo có đai, đi chân không, tay trái tượng giơ lên trước ngực, ngón trỏ xòe ra ở tư thế quyết ấn, tay phải cầm gươm thất tinh, chống mũi kiếm lên lưng con rùa.

Pho tượng đồng Trấn Vũ là công trình nghệ thuật xuất sắc đã biết kết hợp các yếu tố: ánh sáng, không gian, kiến trúc và nghệ thuật tạo tác tượng. Theo bia ký còn lại cho biết: trải qua 14 năm nhân dân địa phương quyên đồng, dựng khuôn, xây lò, mộ thợ từ năm 1788 đến năm 1802 mới hoàn thành pho tượng. Pho tượng được công nhận là bảo vật quốc gia vào năm 2015.

Ngoài các hiện vật kể trên, đền Trấn Vũ hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật giá trị khác, chính những yếu tố này đã thể hiện rõ sự quan trọng của di tích đối với đời sống nhân dân đương thời.

5. Giá trị lịch sử - văn hoá - nghệ thuật đền Trấn Vũ

Trong suốt tiến trình lịch sử, đền Trấn Vũ không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm sinh hoạt tinh thần của cộng đồng cư dân phường Long Biên. Các nghi lễ cầu an, cầu mưa thuận gió hòa, tế xuân – thu từng được tổ chức định kỳ, gắn chặt với chu kỳ sản xuất nông nghiệp.

Căn cứ vào bia đá còn lại ở đền Trấn Vũ khẳng định rằng pho tượng đồng Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc dưới triều Tây Sơn, đây là triều đại gắn với mốc son chói lọi của dân tộc. Đền Trấn Vũ còn giữ được một số di vật từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX, góp phần vào công tác nghiên cứu nghệ thuật Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng.

Lễ hội đền Trấn Vũ thường diễn ra vào mùa xuân, bao gồm phần lễ trang nghiêm và phần hội với trò kéo co ngồi, không giống kéo co thông thường. Nghi thức kéo co ngồi tại lễ hội đền Trấn Vũ đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia vào năm 2014.

Năm 2015, nghi lễ và trò chơi kéo co ở lễ hội đền Trấn Vũ trong khu vực châu Á được UNESCO ghi danh là "Nghi lễ và trò chơi kéo co" trong Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là minh chứng cho giá trị văn hoá đặc sắc, không chỉ về mặt tín ngưỡng mà còn về tính cộng đồng và truyền thống dân gian lâu đời của lễ hội.

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, quá trình đô thị hóa nhanh chóng tại phường Long Biên đã tác động mạnh đến không gian văn hóa làng cổ. Trước thực trạng đó, đền Trấn Vũ đã được chính quyền địa phương và ngành văn hóa quan tâm tu bổ, tôn tạo nhằm bảo tồn các yếu tố gốc và phục hồi cảnh quan.

Việc bảo tồn đền Trấn Vũ không chỉ mang ý nghĩa giữ gìn một công trình kiến trúc cổ, mà còn góp phần duy trì ký ức cộng đồng, bảo vệ bản sắc văn hóa của vùng đất Long Biên trong dòng chảy hiện đại hóa.

Đền Trấn Vũ là một thành tố quan trọng trong hệ thống di sản văn hóa của bờ tả ngạn sông Hồng nói riêng và Thủ đô Hà Nội nói chung. Với bề dày lịch sử, giá trị kiến trúc và vai trò xã hội sâu sắc, di tích phản ánh sinh động mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và đời sống tâm linh.

Đền Trấn Vũ đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1990.

Bài & ảnh: Nguyễn An.,JSC